RSS

Category Archives: Tấm gương nông dân

Các tấm gương điển hình, kỹ năng làm giàu trong ngành nông nghiệp

“Truyền lửa” cho nông dân làm giàu – Nông thôn

Tốt nghiệp khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông lâm Huế năm 2004, chị Hiền được người quen giúp kiếm việc làm ở thành phố. Nhưng chị từ chối và về quê nhà ở huyện vùng cao A Lưới để đem kiến thức học được giúp đồng bào phát triển kinh tế.

                                                          Thủ lĩnh ND huyện A Lưới Hồ Thị Hiền.

Hạnh phúc vì được giúp nông dân

Thời điểm đó, huyện A Lưới chủ trương đưa sinh viên mới tốt nghiệp đại học, cao đẳng về làm việc ở các xã, Hiền được giới thiệu về làm việc tại UBND thị trấn A Lưới rồi sau đó được bầu làm Phó Chủ tịch UBND thị trấn.

Bà con quê chị còn đói nghèo vì tập quán canh tác lạc hậu. Nhờ thông thạo tiếng các dân tộc Pa Kô, Tà Ôi, Vân Kiều, Cơ Tu… chị rất thuận lợi trong việc đến từng nhà dân hướng dẫn, thuyết phục bà con áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, chăn nuôi. Thuyết phục một lần không được, chị thuyết phục, hướng dẫn 2- 3 lần… khi nào dân hiểu và nghe theo mới thôi.

Làm theo lời cô kỹ sư trẻ, cuộc sống của bà con ngày càng khấm khá nhờ nuôi bò, dê, lợn, gà, trồng sắn, chuối, trồng rừng, cà phê, canh tác trên đất dốc… Việc gần gũi với người dân cũng giúp chị Hiền rèn luyện cho mình kỹ năng giao tiếp, kinh nghiệm vận động quần chúng. Năm nào chị cũng được công nhận đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và là tấm gương trong phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở huyện.

Tháng 8.2010, chị Hiền được điều về làm Phó Chủ tịch Hội ND huyện A Lưới và 4 tháng sau được bầu làm Chủ tịch Hội Nông dân huyện, là một trong những thủ lĩnh nông dân huyện trẻ nhất ở Thừa Thiên – Huế. Với cương vị công tác mới, địa bàn hoạt động rộng hơn nên chị đi về với người dân nhiều hơn. “Nhiều khi mệt lả nhưng được giúp bà con, mình hạnh phúc lắm” – chị Hiền tâm sự.

Nghe nông dân nói, nói nông dân tin

Trở thành thủ lĩnh nông dân huyện, công việc đầu tiên của chị Hiền là củng cố và kiện toàn nhân sự của các Hội Nông dân cơ sở. Nhờ đó, tổ chức Hội Nông dân của 21 xã, thị trấn trên địa bàn hoạt động ngày càng hiệu quả. “Để giúp được nông dân thì trước hết phải có nhân sự, mà nhân sự phải là những người có tâm huyết thì mới dốc sức giúp bà con được”- chị Hiền chia sẻ.

Theo chị Hiền, người làm công tác hội không thể cứng nhắc, mà phải có phương pháp để nông dân nghe và tin theo. Muốn có phương pháp hay cần thường xuyên tiếp xúc, gần gũi với bà con để biết họ cần cái gì rồi từ đó có cách tuyên truyền, hỗ trợ.

Để động viên cán bộ, ngày lễ, tết, chị quyết định trích quỹ mua quà đi thăm các cơ sở chi, tổ hội, nhất là những địa phương ở xa. Ngày truyền thống của Hội, chị mời các cán bộ cơ sở về gặp mặt, tọa đàm, tặng quà. Nhiều hội viên không có tiền đóng hội phí thì chị đóng giúp. Nhờ đó, đến nay, huyện A Lưới có 10.305 hộ thì 6.400 hộ có thành viên tham gia sinh hoạt Hội Nông dân.

Theo chị Hiền, người làm công tác hội không thể cứng nhắc, mà phải có phương pháp để nông dân nghe và tin theo. Muốn có phương pháp hay cần thường xuyên tiếp xúc, gần gũi với bà con để biết họ cần cái gì rồi từ đó có cách tuyên truyền, hỗ trợ. Mặt khác, cán bộ hội nói cái gì cũng phải chứng minh bằng hiệu quả thực tế, nếu không thì có tâm huyết đến mấy nông dân cũng khó nghe theo.

Ông Hồ Sỹ Mật – nông dân sản xuất kinh doanh giỏi xã A Đớt cho biết, ông cũng như nhiều hội viên nông dân khác trên địa bàn vươn lên thoát nghèo được là nhờ sự giúp đỡ của Hội Nông dân, đặc biệt là Chủ tịch Hội Hồ Thị Hiền. “Chị Hiền là nữ thủ lĩnh có trình độ và luôn hết mình với nông dân nên được bà con tin và làm theo”- ông Mật nhận xét.

An Sơn

Nguồn tin: http://danviet.vn/81447p1c34/truyen-luacho-nong-dan-lam-giau.htm

 
 

Làm giàu từ ba ba

Đời sống của đồng bào dân tộc ở một xã miền núi của tỉnh Yên Bái đã có nhiều thay đổi kể từ khi nuôi ba ba. Nhiều gia đình đã trở thành triệu phú

Xã Cát Thịnh (huyện Văn Chấn, Yên Bái) cách Hà Nội hơn 250 cây số, dọc theo quốc lộ 32. Những ngày này, hàng chục gia đình đang dọn dẹp ao chuồng, chuẩn bị cho mùa ba ba sinh sản.

Ông Hứa Văn Giáp, Phó Chủ tịch UBND xã Cát Thịnh cho biết, con ba ba đã có mặt ở xã cách đây khoảng 20 năm, tập trung nhiều nhất ở thôn Văn Hưng.

                                                                     Anh Sa Quang Huy

Trước kia, khi chưa nuôi ba ba, cuộc sống của người dân trong xã chủ  yếu là làm ruộng ở các khe suối và trồng chè trên các sườn núi nên thu nhập bếp bênh, cuộc sống còn không ít khó khăn, chật vật.

“Kể từ ngày nuôi ba ba đời sống của nhiều nông dân đã khá giả hơn trước. Nhiều gia đình có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Con ba ba đã trở thành con vật làm giàu của đồng bào dân tộc xã nhà”, ông Hứa Văn Giáp nói.

Người dân trong xã đã tận dụng những quả đồi trọc hay những mảnh đất bỏ hoang để đào ao nuôi thả ba ba, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tính ra, nuôi ba ba cho thu nhập cao gấp 100 lần so với trồng lúa.

Từ năm 2000, phong trào nuôi ba ba thực sự phát triển mạnh ở  xã Cát Thịnh do nhu cầu của khách hàng ngày càng tăng cao. Mô hình kinh tế này đã được nhân rộng ra toàn xã. Từ chỗ chỉ có vài ba hộ nuôi ba ba ngày trước, đến nay, cả xã đã có đến 270 gia đình tham gia nuôi con vật này.

Trước đây, người dân trong xã chủ yếu nuôi loại ba ba trơn nhưng sau đó đã mạnh dạn chuyển sang  nuôi ba ba gai. Đây là loại ba ba cho giá kinh tế cao, có thể xuất khẩu.

Với đặc điểm miền núi có khí hậu lạnh nên, xã có điều kiện thuận lợi nuôi ba ba sinh sản. Từ đầu tháng 3 hàng năm, người dân trong xã lại tất bật chuẩn bị cho mùa ba ba đẻ trứng. Con ba ba giống của xã Cát Thịnh đã có mặt ở nhiều tỉnh phía Bắc

Mỗi năm người dân trong xã xuất ra ngoài hàng chục nghìn con ba ba thu về hàng tỷ đồng.

Chỉ riêng năm 2010, tổng doanh thu cả xã từ con ba ba đạt gần 10 tỷ đồng. Tính ra nhà nuôi ít thu về hơn 40 triệu đồng mỗi năm, nhà nuôi nhiều lên đến hơn 700 triệu đồng. Toàn xã có khoảng 50 gia đình có thu nhập trên 100 triệu đồng mỗi năm nhờ nuôi ba ba.

“Con ba ba xã nhà đã trở nên nổi tiếng ở nhiều tỉnh trên cả nước. Chúng tôi đang đẩy mạnh xây dựng thương hiệu để con ba ba của chúng tôi vươn xã hơn nữa”, ông Giáp nói.

 

                                      Ông  Hứa Văn Giáp, Phó Chủ tịch UBND xã Cát Thịnh – Ảnh Chinhphu.vn

Dẫn chúng tôi đi thăm gia đình anh Sa Quang Huy, người dân tộc Thái, ông Phó Chủ tịch xã giới thiệu, đây là một trong gia đình đã “phất” lên nhờ ba ba.

Anh Huy cho biết, ngày trước, gia đình anh chỉ làm lúa nước và trồng chè.

Để cải thiện kinh tế gia đình , anh đã xoay xở nhiều nghề. Có lúc, anh nhận đất hoang để trồng rừng kết hợp với chăn nuôi lợn gà nhưng kinh tế gia đình anh vẫn gặp nhiều khó khăn.

Nhận thấy nuôi con ba ba đem lại giá trị kinh tế cao, anh đã mạnh dạn dốc hết toàn bộ tài sản đầu tư xây dựng ao chuồng để nuôi con vật này. Đó là thời điểm năm 2001.

Thế nhưng việc nuôi ba ba cũng không dễ dàng. Lần ấp trứng ba ba đầu tiên anh bị thất bại, toàn bộ số trứng đều bị hỏng do chưa nắm chắc kỹ thuật. Sau thất bại đó, anh vừa làm vừa rút kinh nghiệm; đồng thời, anh tự mình tìm tòi học hỏi kiến thức nuôi ba trong tự nhiên và qua sách báo.

“Điều quan trọng nhất khi ấp trứng ba ba là cần phải giữ cho cát trong ổ có độ ẩm phù hợp. Nếu cát ướt quá hoặc khô quá thì trứng sẽ bị hỏng” anh Huy chia sẻ.

Từ một gia đình có cuộc sống thiếu thốn, nhờ nuôi con ba ba, anh đã vươn lên trở thành triệu phú. Năm ngoái, gia đình anh đạt tổng doanh thu hơn 600 triệu đồng từ con ba ba. Cả xã có gần 10 hộ có quy mô nuôi ba ba như gia đình anh.

(chinhphu.vn)                                                                                                                                                 

 
 

Bán lá tre thành… tỷ phú

Từ việc thu mua và bán lá bương – một loại cây họ tre – mét, chị Đặng Thị Triệu, một nông dân ở xã An Phú, huyện Mỹ Đức, Hà Nội đã trở thành một tỉ phú.
 
Lá bương được các thương lái Đài Loan thu mua với số lượng lớn. Theo các thương lái này, lá bương được chuyển về Đài Loan để làm lá gói bánh hoặc đan thành túi đựng thực phẩm.

Nói về ý tưởng kinh doanh lá bương, chị Triệu cho biết: “Tôi bắt đầu việc buôn bán lá bương từ năm 1992. Khi ấy, hai vợ chồng với 4 đứa con, một đứa lại tàn tật chỉ trông vào mấy sào ruộng nên cuộc sống rất khó khăn. Thấy người ta vào thung hái lá bương về bán nên tôi nghĩ đến việc làm đầu mối thu mua, bán lại cho các chủ hàng ở Ngọc Hồi, Hà Nội”.

“Lá bương sau khi hái về, được đưa vào lò sấy khô, rồi ép thành kiện. Tiếp theo, kiện được mở ra, đây cũng là lúc phân loại và tuyển chọn lá. Tùy theo độ rộng và dài của lá, lá bương được phân thành loại A và loại B. Sau đó, lá sẽ được sấy thêm một lửa nữa, rồi mới được đóng gói và vận chuyển tới các cơ sở thu mua tại Phú Thọ.

Việc sấy lá là khâu quan trọng nhất. Nếu không đúng lửa, lá dễ bị mốc và hỏng. Lúc ấy chỉ có nước đổ lá đi. Nhớ lúc mới làm nghề này, tôi cũng trải qua nhiều lần thua lỗ vì lá chỉ đạt được 70% chất lượng đối tác yêu cầu”, chị Triệu nói.

Để học được kỹ thuật sấy lá khô không bị mốc, chị Triệu đã phải thuê thợ lành nghề từ Phú Thọ đến cùng làm và truyền nghề trong vòng một tháng. Giờ đây, khi đã lành nghề, chị hướng dẫn lại kỹ thuật cho các chủ xưởng là đầu mối thu mua hàng.

Chị Triệu chia sẻ: “Việc sấy lá bương cũng phải hết sức cẩn thận để đề phòng hỏa hoạn. Cách đây 2 năm thôi, do gió lốc mà lò sấy nhà tôi đã bị bà hỏa “ghé thăm”. Không chỉ cháy hết lá trong lò, mà một gian nhà gần đó cũng bị lửa bén vào. Tổng thiệt hại khoảng 20 triệu đồng, may mà không có thiệt hại về người. Việc kinh doanh lá bương có khi cũng nhiều khó khăn, trở ngại chứ không hề đơn giản”.

Nhận thấy việc buôn bán qua tay chủ Việt Nam lãi suất không cao nên từ 4 năm nay chị Triệu đã là đầu mối trực tiếp thu mua và xuất khẩu lá bương cho chủ Đài Loan. “Khi sản phẩm của mình đạt chất lượng cao, làm việc có uy tín thì chủ nước ngoài tự tìm đến, đặt hàng và đầu tư cho mình”, chị Triệu khẳng định.

Một yến lá bương tươi có giá 6.000 đồng, sau khi phơi sấy thành thành phẩm thu về 4 kg lá khô. Hiện lá bương có giá 31.000 đồng/kg. Mỗi năm chị Triệu xuất sang Đài Loan từ 150 đến 200 tấn lá bương.

Theo chị Triệu, nghề làm lá bương bận rộn nhất là từ tháng 5 đến tháng 11, bởi chỉ khi vào mùa mưa, những cành bương non mới đâm chồi, nảy lộc, những cành lá to gần như hai bàn tay người lớn xòe ra bắt đầu xanh già. Lá bương khi ấy sẽ đạt chất lượng tốt nhất.

Vào lúc chính vụ, xưởng của chị Triệu có từ 20 đến 30 công nhân làm việc, với mức thu nhập từ 50 nghìn đồng đến 100 nghìn đồng một ngày. Bên cạnh đó, xưởng của chị Triệu còn là đầu mối thu mua sản phẩm từ 4 xưởng khác tại địa phương. Ước tính, có 100 công nhân chủ yếu là phụ nữ địa phương được tạo công ăn việc làm từ việc kinh doanh lá bương của chị Triệu. Mới đây, chị Triệu cũng đã khai trương thêm hai xưởng làm lá bương tại Phú Thọ.

Sấy lá, đòi hồi hỏi sự cẩn thận và kinh nghiệm. (Ảnh: Hương Mai)

Hiện cơ sở thu mua lá bương, sấy khô, đóng gói và xuất của chị Triệu ngày càng hiệu quả với doanh thu từ 125 triệu đồng năm 2007 đã lên đến hơn 2 tỷ năm 2010.

Chị Triệu dự định sẽ đầu tư thêm trang thiết bị và mở rộng địa bàn thu mua tới 6 huyện là Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Lương Sơn, Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình) và Mai Sơn, Phù Yên (tỉnh Sơn La).

Chị Triệu nói: “Đây là một mô hình kinh doanh mới và rất có tiềm năng tại địa phương nên tôi vẫn luôn khuyến khích và động viên bà con trong thôn xã cùng tham gia hoạt động kinh doanh để mọi người có cơ hội tạo thu nhập ngày càng cao”.

Theo cafef
 
 

Kiếm bộn tiền nhờ “cây bơ vàng”

“Đăk Lăk: Một cây bơ cho bạc triệu” -đó là thương hiệu người dân nơi đây đặt cho một cây bơ trái vụ thuộc sở hữu của gia đình ông Nguyễn Ngọc Đức ở thôn 7, xã Ea Tiêu, huyện Cư cuin (Đăk Lăk).
 
Cách trung tâm Tp. Buôn Ma Thuột không xa (khoảng 9 km), chúng tôi ghé thăm gia đình ông Nguyễn Ngọc Đức và được “tận mục sở thị” về một “cây bơ triệu phú”. Đây quả là một cây bơ cổ thụ, nằm giữa mảnh vườn, tán rộng bao trùm như một “bóng cây cơ nia”, thân chừng hai người ôm mới hết, trên cây có đầy quả, đủ các cỡ to, nhỏ. 
Tâm sự với chúng tôi ông Đức cho biết “Cây bơ này được một chủ nhà trước trồng từ năm 1987, năm 1990 tôi đã mua lại mảnh vườn và là chủ sở hữu cho đến giờ. Năm 1992 thì cây bơ cho bói, lúc đầu chỉ được vài kg quả chỉ đủ ăn và biếu bạn bè, làng xóm. Cứ vậy hơn 20 năm trôi qua, từ khi cây bơ cho bói dần theo thời gian cây ngày một to ra, số lượng quả lại tăng lên theo cấp số cộng. Tiền bán bơ trái vụ ngoài mua phân lân bón cho rẫy, tôi còn mua sắm thêm đồ dùng cũng như trang trải sinh hoạt hàng ngày”.Khi được hỏi về nguồn gốc cây bơ trái vụ này, ông Đức kể, nghe chủ nhà trước đây cho biết, trong một lần tới Nông trường Việt Đức (thời Pháp thuộc) được ăn một trái, thấy bơ thơm ngon, đây là giống bơ trái vụ cơm vàng, hạt lép nên đã lấy giống về trồng.

Ông Đức còn nói, cây bơ cho thu hoạch đều từ 15 năm trở lại đây, số lượng quả cho thu rải rác hàng năm (từ tháng 11 tới tháng 6), tuy nhiên trước đây vì không ghi chép nên tôi không biết số chính xác lượng quả hàng năm là bao nhiêu. Đến năm 2010, tôi đã lập thành cuốn số và ghi chép đầy đủ số lượng quả bán ra cũng như số tiền thu về từ bán bơ. 

Số lượng bơ thu đều hàng năm khoảng 650 đến 800kg/năm, tùy theo từng năm. Với giá trung bình từ 50 đến 60 ngàn đồng/kg, năm nào tôi cũng thu về trên 10 triệu đồng. Cụ thể, năm 2010 tôi thu được 10.800.000 đồng, nổi trội năm 2011 do thời tiết thuận lợi nên tôi thu tới 28.640.000 đồng. Riêng năm 2012, với giá bơ nằm ở mức từ 60-70 ngàn đồng/kg, từ đầu năm tới giờ tôi đã thu về được 11.340.000 đồng.

Cây Bơ con mang thương hiệu Minh Phát được ông Đức bán ra thị trường

Là chủ sở hữu một “cây bơ vàng” tại Đăk Lăk, lo ngại một ngày nào đó cây bơ này sẽ già cỗi và chết đi nên ông Đức đã thuê kỹ sư nông nghiệp về lấy chính chồi của cây này và ghép thành công giống bơ con trái vụ. Và cũng tại mảnh vườn này ông đã trồng thử nghiệm được 10 cây, hiện đã cho bói qua 1 năm nay rồi, quả vẫn thơm ngon không kém cây mẹ, thậm chí to hơn (vì cây mới trồng). 

Với mong muốn lưu giữ lại giống bơ quý này, đồng thời tạo điều kiện cho bà con nông dân có cơ hội phát triển về cây bơ. Năm 2011, ông đã quyết định ghép và bán ra thị trường. Để khẳng định thương hiệu bơ trái vụ của mình, ông đã đặt tên cho giống bơ này là giống bơ Minh Phát. “Năm 2011 tôi đã bán ra thị trường khoảng 2 ngàn cây giống, với giá trung bình từ 30-35 ngàn đồng/cây ông đã thu về được 60-70 triệu đồng. Riêng năm 2012 này ông có ý định ghép khoảng 7-9 ngàn cây giống” ông Đức cho biết.

Anh Đậu Chí Thanh, người chịu trách nhiệm về kỹ thuật ghép bơ giống Minh Phát cho biết, “bơ là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, nhất là bơ trái vụ, lại hợp với vùng đất Tây Nguyên, có thể trồng xen canh với cây cà phê là tốt nhất… Việc trồng bơ nên đào hố sâu nhưng cần trồng cạn để tạo cho cây phát triển nhanh, lâu già cỗi”…

Trên thế giới, bơ là cây rất phổ biến. Trong 300 loài cây ăn quả, bơ được xếp thứ 10. Người dân nhiều nước rất chuộng ăn bơ. Bơ không phải là cây khó trồng. Ở Việt Nam, việc trồng bơ đang lan rộng. Từ các tỉnh Tây Nguyên, cây bơ tràn ra ngoài Bắc.

Theo ANTĐ

 
 

Kiếm hàng trăm triệu mỗi năm nhờ nuôi thỏ

Đã có nhiều người nuôi thỏ, nhưng không ít người bỏ cuộc vì không đạt kết quả do thiếu đầu tư, không vững về kiến thức nuôi.
 
Với ông Nguyễn Văn Em ở ấp Lương Thuận, xã Lương Quới, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre thì khác. Dù chưa tới 100 m2đất dùng để đầu tư nuôi thỏ, ông vẫn đạt thu nhập trên 100 triệu đồng mỗi năm.

Như bao nông dân khác, bên cạnh kinh tế vườn, ông Em từng chọn các vật nuôi như heo, gà để tăng thêm nguồn thu nhập cho gia đình. Tuy nhiên, những vật nuôi này giá cả bấp bênh, chi phí thức ăn ngày càng tăng cao nên nhiều lần ông phải chịu thua lỗ. Năm 2000, từ các phương tiện truyền thông ông Em biết về các mô hình nuôi thỏ đạt hiệu quả kinh tế khá cao. Thế là, ông tìm mua 1 cặp thỏ giống giá 50.000 đồng về nuôi. 

Để trang bị kiến thức cho mình, ông Em mua sách “Hỏi đáp về nuôi thỏ” và áp dụng kỹ thuật nuôi theo hướng dẫn trong sách. Sau 3 năm nuôi và nhân giống thành công, ông Em đã nâng qui mô nuôi thường xuyên khoảng 100 con thỏ. Trong số này luôn có từ 40 – 50 thỏ cái. Qua tuyển chọn, ông Em đã có được các giống thỏ chất lượng, dễ nuôi như Tân Tây Lan, Bắc Âu, thỏ đạt trọng lượng bình quân sau 7 – 8 tháng nuôi từ 4 – 5 kg/con. Ông Em cho biết: “Lúc đầu tôi nuôi thỏ cũng gặp một số trở ngại như thỏ bệnh, buôn bán khó khăn. Nhiều lúc muốn bỏ, nhưng thấy nuôi không tốn nhiều công sức và chi phí nên tiếp tục nuôi. Cùng với kinh nghiệm tích lũy, tôi luôn tìm tòi, học hỏi kỹ thuật trong sách để hạn chế tỷ lệ hao hụt, giảm chi phí, tìm đầu ra… Hiện, tôi chỉ cần điện thoại là có lái đến bắt thỏ thịt, giá 52.000 đồng/kg”.

Ông Em cho biết thỏ con từ lúc mới sinh ra đến tách mẹ khoảng 1 tháng và nuôi khoảng 5 tháng sau sẽ phối giống. Thỏ mẹ mang thai khoảng một tháng thì sinh sản. Để thỏ giống khỏe mạnh, sinh sản tốt, chỉ cho thỏ sinh sản 2 lứa trong thời gian 3 tháng. Mỗi lứa thỏ mẹ đẻ từ 4 – 6 thỏ con. Nếu tính trong một năm, thỏ mẹ sinh sản khoảng 40 thỏ con, với 40 – 50 thỏ sinh sản, mỗi năm ông có từ 1.600 – 2.000 thỏ con. Từ mô hình nuôi thỏ thành công của ông Em, nhiều người đã đến học hỏi kinh nghiệm và mua thỏ giống về nuôi. Những năm qua ông Em đã cung cấp hàng chục ngàn con thỏ giống cho người có nhu cầu nuôi thỏ ở tỉnh Bến Tre và nhiều địa phương khác ở ĐBSCL. Thỏ tốt, ông bán giá 150.000 – 200.000 đồng/cặp vừa tách mẹ; thỏ tơ nuôi 3 tháng ông bán giá 150.000 đồng/kg cho khách hàng nuôi nhân giống. Đối với những con thỏ không đạt để làm giống, ông Em nuôi bán thịt, giá luôn ổn định ở mức cao. Trong năm 2011, giá bán thỏ từ 40.000 – 60.000 đồng/kg.

Với kinh nghiệm đúc kết trên 10 năm nuôi thỏ, ông Em cho biết: Thỏ thuộc loài gặm nhấm nên nuôi dễ thành công nếu nắm vững các kỹ thuật cơ bản. Thỏ ăn không nhiều, thức ăn chủ yếu là cỏ, các loại rau xanh. Người nuôi chỉ cần cho thỏ ăn vào buổi sáng và buổi tối. Nếu cho ăn nhiều, thỏ chỉ nhai rồi bỏ. Lượng cỏ cho mỗi con thỏ bước vào giai đoạn sinh sản mỗi lần ăn khoảng 1 nắm tay. Nếu không có thời gian cắt cỏ cho thỏ ăn, có thể cho chúng ăn thức ăn dùng để nuôi heo. Phải đảm bảo cho thỏ uống đủ nước sạch, cỏ cho thỏ ăn phải giũ sạch, khu vực nuôi thỏ cần thoáng mát, giữ cho thỏ không bị ảnh hưởng lạnh và nắng nóng. Nên vệ sinh chuồng trại, khu vực nuôi thường xuyên để hạn chế bệnh trên thỏ. Cần theo dõi sức khỏe của thỏ để khi phát hiện thỏ bệnh điều trị kịp thời, nhất là bệnh ghẻ. Đối với thỏ nuôi nhân giống, nên chú ý không để thỏ phối giống trùng huyết, nếu phối giống trùng huyết thỏ con sẽ chết, hoặc nuôi không đạt yêu cầu. Thỏ đực và thỏ cái phải nuôi riêng trước và sau khi phối giống. Nuôi thỏ nái cần ghi sổ nhật ký để biết ngày cho phối giống, để máng cho thỏ đẻ và ngày cai sữa thỏ con. Khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm, ông Em bán thỏ giống, thỏ thịt đạt thu nhập trên 100 triệu đồng, trong số này chi phí thức ăn chỉ khoảng 10 triệu đồng. 

Theo Báo Cần Thơ

 
 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.